Hán ngữ hình thành và phát triển như thế nào?

Hán ngữ hình thành và phát triển như thế nào? . Theo sự tìm hiểu và tham khảo của trung tâm tiếng trung thì Hán ngữ là một ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Hán-Tạng (Sino-Tibetan). Ngữ tộc này còn bao gồm hai nhánh lớn: Tạng-Miến (Tibeto-Burman) và Hán. Ngữ tộc Hán Tạng còn bao gồm các ngôn ngữ Thái và Nê-pal (Nepalese). Còn có một thuyết khác: Hán ngữ là ngôn ngữ độc lập trong đại ngữ tộc Indo-Sinitic. Ngữ tộc này còn bao gồm các ngôn ngữ: Thái, Tây Tạng, Miến Điện (Burmese), Mèo (Miao), Lolo, và các ngôn ngữ nhóm Mon-Khmer.

1, Hán ngữ không phổ thông nhưng lại lâu năm

Như chúng ta đều biết Hán ngữ là một trong các ngôn ngữ cao niên nhất, nhưng chưa ai trả lời được Hán ngữ được bao nhiêu tuổi, vì câu hỏi lớn hơn về nguồn gốc của dân tộc này vẫn chưa giải đáp nổi.

Theo chuyện kể lại  thì Phục Hi 伏 羲 (một ông vua truyền thuyết) khoảng 3000 năm trước Công Nguyên (= tcn) vì chứng kiến những ký hiệu huyền bí trên lưng con long mã xuất hiện nơi sông Hoàng Hà nên đã truyền một vị đại quan tên là Thương Hiệt 倉頡 tạo ra chữ viết. Cũng theo truyền thuyết, Phục Hi vẽ ra bát quái, coi như tiền thân của chữ viết. Còn Thương Hiệt là hữu sử quan của Hoàng Đế (cũng là ông vua truyền thuyết) chứ không phải của Phục Hi. Lại có một thuyết khác, gọi là«Thương Hiệt tác thư»  頡 作 書 (Thương Hiệt sáng tác chữ viết): Thương Hiệt đã quan sát các hiện tượng thiên nhiên và bắt chước các dấu vết của động vật, cây cỏ, chim chóc, tinh tú mà tạo ra chữ Hán. Thông thường người ta chỉ nhắc đến Thương Hiệt mà bỏ sót Trở Tụng, tả sử quan của Hoàng Đế. Từ điển Từ Hải giảng nơi mục từ Trở Tụng rằng: «Thời của Hoàng Đế, Trở Tụng là quan tả sử, Thương Hiệt là quan hữu sử, cùng tạo ra văn tự; nhưng đời nay nhiều người biết có Thương Hiệt mà ít người biết có Trở Tụng.» (Hoàng Đế thời Trở Tụng vi tả sử, Thương Hiệt vi hữu sử, đồng tác văn tự; đãn kim thế đa tri hữu Thương Hiệt, tiển tri hữu Trở Tụng 黃 帝 時 沮 誦 為 左 史 , 倉 頡 為 右 史 , 同 作 文 字 ; 但 今 世 多 知 有 倉 頡 , 鮮 知 有 沮 誦 ). Từ điển Từ Hải còn trích dẫn Tứ Thể Thư Thế của Vệ Hằng 衛 恆 rằng: «Trở Tụng là sử quan của Hoàng Đế, là người đầu tiên tạo ra thư khế, quản lý vạn sự.» (Trở Tụng, Hoàng Đế sử, thuỷ tác thư khế, kỷ cương vạn sự 沮 誦 , 黃 帝 史 ,始 作 書 契 , 紀 綱 萬 事 ).

Những văn bản của trung quốc là một thành tựu văn hoá quan trọng đến nỗi tương truyền rằng khi hệ văn tự này hoàn thành thì ban đêm thần sầu quỉ khốc, sấm chớp nổi dậy, và ngũ cốc trên trời đổ xuống như mưa. Tất nhiên ngày nay rất hiếm người tin vào điều đó, nhưng sự thần bí hoá thành tựu này chẳng qua là đề cao tính chất quan trọng của nó. Văn tự là thành tựu quan trọng, bởi vì chữ viết và các dụng cụ ghi chép – dao khắc, bút, sơn, mực, lụa, thẻ tre (trúc giản), thẻ gỗ (mộc giản), giấy – đã giúp con người ghi nhớ sự việc trong lao động và sinh hoạt, nhưng quan trọng hơn cả là họ có thể ghi chép được quá khứ của mình cũng như lưu giữ các kiến thức và kinh nghiệm để truyền lại cho hậu nhân. Nhờ đó mà con người có lịch sử thành văn. Những bài học lịch sử và kiến thức cũng như sự minh triết của cổ nhân bao ngàn năm qua đã cải thiện con người hoang dã của hôm qua để thành người văn minh của hôm nay. Giả sử không có văn tự con người hẳn không biết quá khứ dằng dặc bao ngàn năm của mình. Một khi sau lưng chỉ là bóng tối, thì trước mặt hẳn không có triển vọng gì.

Các nhà ngôn ngữ học tại Trung Hoa xưa đã bác bỏ  «Thương Hiệt tác thư»  頡 作 書 ấy. Họ cho rằng Thương Hiệt chẳng qua chỉ là hệ thống lại các chữ Hán có sẵn mà thôi. Những khai quật khảo cổ cho thấy chữ Hán cổ xưa nhất là Giáp Cốt Văn 甲骨文 được khắc trên mai rùa và xương thú (giáp = quy giáp  龜 甲 : mai rùa; cốt = thú cốt  獸 骨 : xương thú), xuất hiện từ đời Thương  (1766-1122 tcn). Đời Chu  (1122-221 tcn) sử dụng chữ Đại Triện 大 篆 . Đời Tần  (221-206 tcn), Tần Thủy Hoàng Đế 秦始皇帝 thống nhất sáu nước, thừa tướng Lý Tư 李 斯 thống nhất văn tự, chữ Tiểu Triện 小 篆 và chữ Lệ  được sử dụng. Các chữ Khải , Hành , Thảo được phát triển từ đời Hán  (206 tcn-221 cn) đến đời Tấn  (265-420). Năm 1949, đảng Cộng Sản Trung Quốc cầm quyền, chủ trương giản hóa văn tự và chữ giản thể được phổ biến cho đến nay tại Hoa Lục.

 

PHIÊN ÂM PINYIN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THẾ NÀO ?

Bạn có biết Phiên Âm Hán Tự có từ bao giờ ? Trước hết phải kể từ các thừa sai dòng Tên (Jesuit missionaries) xuất hiện ở Trung Quốc cuối thế kỷ XVI. Họ học thông thạo Hán ngữ tại khu vực hải cảng của Macao với lối phiên âm Latin do chính họ sáng chế. Họ rất được trọng vọng ở triều đình Bắc Kinh. Người Trung Quốc dẫu có đánh giá cao cách phiên âm Latin ấy nhưng cũng khó vận dụng được vì thật sự cách phiên âm này chỉ thích hợp cho người Tây phương học Hán ngữ. Sau đó, các mục sư Tin Lành có nhiều cải tiến hơn trong việc dạy dân chúng vùng duyên hải học Hán ngữ bằng cách phiên âm Latin. Nhưng bản thân người Trung Quốc vẫn chưa nỗ lực cải cách các phương thức phiên âm ấy để biến đổi cái văn tự biểu ý (ideographic characters) truyền thống của họ thành một văn tự biểu âm (phonetic script).

Vài trăm năm sau đó , cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Tây phương đã buộc người Trung Quốc nghĩ đến việc hiện đại hóa, một việc mà Nhật Bản đã tự nguyện tiến hành và đã thành công. Cải cách văn tự càng trở nên bức thiết trước những tiện ích như điện tín, máy đánh chữ, máy in hiện đại, cũng như trước nhu cầu giảng dạy khoa học tự nhiên cho học sinh. Trong khi người Trung Quốc lúng túng với văn tự biểu ý của mình thì người Nhật từ lâu đã nghĩ ra cách dùng hệ thống ký âm gọi là Kana (Giả danh 假名: gồm Phiến giả danh [katakana] 片假名 và Bình giả danh [Hiragana] 平假名song hành với Kanji 漢字 (tức là những Hán tự vay mượn của Trung Quốc đọc theo âm Nhật).

Đã từ rất lâu Trung Quốc đã cố gắng hướng về một quốc ngữ với giản hóa tự. Đáng tiếc những nỗ lực ấy đã bị chựng lại vì những người bảo thủ không muốn văn tự tổ tiên truyền lại bị xuyên tạc cải biên cũng như không muốn tiếng Quan Thoại 官話 (Mandarin) trở thành Quốc Ngữ 國語. Trong thời kỳ này, hệ thống Chú Âm Phù Hiệu 注音符號 ra đời, gồm khoảng 40 ký hiệu chế biến từ một số nét Hán tự, nhưng vẫn chỉ là một cách phiên âm bên cạnh Hán tự truyền thống (tức là chữ phồn thể) chứ không thể đứng độc lập được. Phong trào giáo dục đại chúng những năm 1920 đã đề ra 1000 Hán tự cơ bản để dạy người mù chữ. Đó có phải là khởi điểm cho những người mù chữ để họ phát triển thành 5000 Hán tự sau này, hay đó có phải là một thứ Hán ngữ cơ bản bao quát mọi tình huống viết lách thông thường?

Những điều chưa rõ ràng này giúp bạn hiểu hơn về học tiếng trung . Năm 1926 Quốc Ngữ La Mã Tự được khởi thảo và được Bộ Giáo Dục công bố năm 1928. Đặc điểm củaQuốc Ngữ La Mã Tự là không dùng những ký hiệu bên ngoài chữ để biểu thị bốn thanh điệu, mà dùng một vài mẫu tự Latin nằm ngay trong chữ. Đây là một hệ thống phiên âm chính xác nhưng khó học khó nhớ vì thế nó cũng dừng lại ở chức năng phiên âm mà thôi chứ không thể tiến xa hơn như là một văn tự riêng biệt.

Vào những năm đầu của thế kỷ 30, tại Liên Xô một thứ Hán ngữ Latin hóa được chế tác cho người Trung Quốc sống ở Liên Xô. Nó được gọi là Latin thoại 拉丁話 và rồi được phổ biến nhanh chóng tại Trung Quốc, đặc biệt là những khu vực do Cộng Sản kiểm soát. Chính quyền Quốc Dân Đảng vẫn tiếp tục giảng dạy Hán ngữ phồn thể. Tiếng Quan Thoại được chuẩn hóa để trở thành Quốc Ngữ đồng thời Latin thoại được chỉnh lý và cải danh thành Pinyin (Bính Âm) năm 1956. Pinyin được sử dụng khắp nơi như trong trường học, chỗ công cộng, v.v… với niềm hy vọng của nhà cầm quyền là nó sẽ trở thành một ngôn ngữ hẳn hoi. Đầu năm 1956, Hội đồng Chính phủ Bắc Kinh đưa ra một danh sách gồm 515 Hán tự giản thể, coi như bước đầu của một phương án giản hóa toàn diện. Chính quyền Đài Loan hết sức khó chịu thứ giản thể tự này và nghiêm cấm các văn hóa phẩm du nhập từ Trung Quốc vào Đài Loan không chỉ vì lý do chính trị mà còn vì e ngại sự phổ biến giản thể tự.

Xét về mặt ngữ học, tiếng Quan Thoại chỉ là một phương ngữ (a regional speech dialect). Cho dù được chấp nhận làm Quốc Ngữ nhưng nó chưa thể giải quyết những khó khăn lâu đời giữa khẩu ngữ hằng ngày với ngôn ngữ văn chương. Từ khoảng thế kỷ XII một số tác phẩm văn học chủ yếu là tiểu thuyết và ca kịch đã được viết bằng một văn phong bình dân giản dị. Giới nho sĩ và quan chức thường khinh miệt (hoặc giả vờ khinh miệt) các sản phẩm ấy vì văn ngôn 文言 mới là ngôn ngữ bắt buộc trong giới sĩ phu và quan trường, một ngôn ngữ mà người bình dân ít học không tài nào hiểu được. Người ta ngờ rằng việc duy trì sự khu biệt giữa khẩu ngữ bình dân (bạch thoại 白話) với văn ngôn dường như là một phương thức để bảo vệ giai cấp (a means of class protection) mặc dầu họ chẳng trưng dẫn được chứng cớ gì.

Mãi đến cuối Đệ Nhất Thế Chiến phong trào cách mạng văn học xảy ra, kêu gọi hãy lấy tiểu thuyết với văn phong bình dân giản dị làm mực thước và khuyến khích sử dụng bạch thoại trong việc viết lách. Về sau những người Cộng Sản hết sức ủng hộ phong trào này và cải danh bạch thoại thành phổ thông thoại 普通話 với giản thể tự簡体字 và dùng song hành với Pinyin.

Như vậy, Pinyin có một quá trình phát triển khá dài, bắt đầu từ Latin thoại  một hệ thống được chế tác và phổ biến ở vùng cực Đông Liên Xô khoảng năm 1930  rồi khoảng 4 năm sau được chấp nhận ở Trung Quốc với tên Tân văn tự 新文字. Quốc Dân Đảng phớt lờ Pinyin, nhưng Pinyin hết sức phổ biến ở vùng Tây Bắc Trung Quốc do Cộng Sản kiểm soát. Năm 1952 một ủy ban được thành lập để nghiên cứu cải cách văn tự. Đến năm 1958, Pinyin trở thành hệ thống phiên âm chính thức của Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc. Tiếng trung và văn hóa Trung Quốc luôn gắn liền với nhau. Không phải tự dưng mà mọi thứ lại trừu tượng và khó học thế

 

 

hoc tieng trung tren google:

  • lịch sử hình thành ngôn ngữ trung quốc
  • bạch thoại
  • sự phát triển của tiếng trung
  • lich su chu han trung quoc
  • nguon goc tieng quan thoai
  • han ngu la gi
  • lich sử ra đời của tiếng hoa
  • tại sao lại xuất hiện chữ giản thể
  • lịch sử văn tự chữ hán
  • ngu hinh la nhung the nao
san go cong nghiep là lựa chọn hàng đầu cho tất cả các gia đình muốn có được sàn gỗ giá rẻ đẹp hãy liên hệ ngay  để tư vấn mua sàn gỗ công nghiệp Thụy Sĩ